Danh sách cán bộ

1. Giới thiệu bộ môn

Bộ môn Công nghệ Phần mềm là một trong ba đơn vị đào tạo ngành rộng Khoa học Máy tính của Viện Công nghệ thông tin và truyền thông, trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Bộ môn có định hướng chuyên sâu về Công nghệ phần mềm cho các hệ cử nhân, kỹ sư, thạc sỹ và tiến sỹ.
Thành lập từ năm 2000, Bộ môn đã đào tạo hàng nghìn cử nhân, kỹ sư, và các chuyên gia có năng lực chuyên môn vững vàng với tư duy đổi mới và sáng tạo, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng ngày càng cao của ngành Công nghệ thông tin. Với tư tưởng giáo dục mở, năng động, hiện đại và liên tục đổi mới, sinh viên có môi trường học tập chuyên nghiệp để rèn luyện, phát triển, khai phá tiềm năng bản thân và trở thành những hạt nhân dẫn đầu trong lĩnh vực Công nghệ Phần mềm. Bộ môn cũng là nơi ươm mầm, nuôi dưỡng và là cái nôi khởi nghiệp cho nhiều ý tưởng độc đáo và sáng tạo. Số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp và thành công trong lĩnh vực Công nghệ thông tin xuất phát từ sinh viên và cựu sinh viên của Bộ môn tăng đều hàng năm.

Bộ môn đã đạt được nhiều thành tựu nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực Công nghệ phần mềm với nhiều sản phẩm chất lượng đóng góp cho xã hội và cộng đồng. Bộ môn tập trung phát triển và gắn kết các mảng nghiên cứu cơ bản về công nghệ phần mềm (như mô hình hóa, chuyển đổi mô hình, giả lập, kiểm thử tự động) với các mảng nghiên cứu ứng dụng (như tương tác người máy với công nghệ tiếng nói, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, thị giác máy tính, phần mềm doanh nghiệp, an toàn thông tin…). Định hướng này rất phù hợp với xu thế phát triển của cách mạng công nghệ 4.0 và chuyển đổi số của xã hội, góp phần kết nối các hoạt động đào tạo, phát triển phần mềm với sáng tạo và khởi nghiệp.

Cho đến năm 2020, Bộ môn đã công bố đã công bố hàng chục bài báo tại các hội nghị rank A, tạp chí ISI Q1, Q2, và hàng trăm bài báo tại các hội thảo, tạp chí quốc tế có uy tín khác. Các cán bộ Bộ môn đã chủ trì trên 50 đề tài cấp Bộ, Nhà nước và Quốc tế và đã đạt 5 giải thưởng uy tín cấp quốc gia trong lĩnh vực CNTT&TT như giải thưởng Nhân tài đất Việt hay Quả cầu vàng.

2. Các học phần và hướng nghiên cứu chính của bộ môn

Bộ môn CNPM giảng dạy các học phần định hướng sinh viên trở thành kỹ sư phần mềm và có thể tham gia các dự án, công ty lớn trong và ngoài nước. Các môn học chính bao gồm: Nhập môn Công nghệ phần mềm; Lập trình hướng đối tượng; Thiết kế hướng đối tượng; Phân tích yêu cầu phần mềm; Thiết kế và xây dựng phần mềm; Mẫu thiết kế phần mềm; Tương tác người máy; Quản trị dự án; Mô hình hoá phần mềm; Kiểm thử và bảo đảm chất lượng phần mềm, Phát triển phần mềm trên các nền tảng: di động, web, đa nền tảng; Các kỹ năng mềm; Khởi nghiệp và quản trị doanh nghiệp.

Hình 1. Các hướng nghiên cứu chính của bộ môn CNPM.

Một số hướng nghiên cứu chính của bộ môn được tổng kết trong Hình 1 với 06 định hướng chính về Mô hình hoá phần mềm, Kiểm chứng và xác thực phần mềm, Công nghệ phần mềm thông minh, Quản lý và tối ưu dự án và các chủ đề nghiên cứu khác liên quan tới CNPM. Bảng 1 đưa ra chi tiết về các hướng chuyên sâu cùng với nhóm nghiên cứu.

Bảng 1. Các hướng nghiên cứu chính của Bộ môn CNPM

Hướng

nghiên cứu

Định hướng chuyên sâu Cán bộ tham gia
Mô hình hoá phần mềm Kiến trúc phát triển phần mềm hướng mô hình (MDA), Chuyển đổi mô hình, và Ngôn ngữ mô hình hoá cho các lĩnh vực riêng biệt. Bùi Thị Mai Anh, Nguyễn Nhất Hải, Huỳnh Quyết Thắng
Kiểm chứng và xác thực phần mềm Kiểm thử mã nguồn sử dụng các giải thuật tìm kiếm heuristic, Phân tích động mã nguồn phần mềm Nguyễn Thị Thu Trang, Bùi Thị Mai Anh, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Phi Lê
Công nghệ phần mềm thông minh Dự đoán lỗi phần mềm sử dụng mạng nơ-ron, xử lý ngôn ngữ tự nhiên trong phát triển và vận hành phần mềm, ứng dụng AI trong kiểm thử tự động, giám sát an toàn thông tin, công nghệ ngữ nghĩa trong công nghệ phần mềm Nguyễn Thị Thu Trang, Bùi Thị Mai Anh, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Phi Lê, Nguyễn Nhất Hải, Huỳnh Quyết Thắng, Vũ Thị Hương Giang, Nguyễn Mạnh Tuấn, Cao Tuấn Dũng, Trịnh Tuấn Đạt
Quản lý và tối ưu dự án Tích hợp và quản lý chuỗi cung ứng số, đo đánh giá hiệu năng, quản lý rủi ro. Huỳnh Quyết Thắng, Vũ Thị Hương Giang
Các chủ đề nghiên cứu khác liên quan tới CNPM Xử lý ngôn ngữ tự nhiên; tổng hợp tiếng nói; web ngữ nghĩa, ứng dụng học máy trong tối ưu hoá các giao thức mạng; các nghiên cứu về các thế hệ mạng tiên tiến như mạng IoT, mạng điện toán biên. Nguyễn Khanh Văn, Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Phi Lê, Nguyễn Thanh Hùng, Cao Tuấn Dũng, Vũ Thị Hương Giang, Trịnh Tuấn Đạt

3. Một số kết quả nghiên cứu, sản phẩm tiêu biểu của bộ môn

  • Ngôn ngữ mô hình hoá và công cụ mô phỏng dịch tễ học: Kendrick là một một ngôn ngữ mô hình hoá được xây dựng cho lĩnh vực dịch tễ học. Kendrick giúp việc xây dựng các mô hình phức tạp trong dịch tễ học (ví dụ các mô hình SIR, SEIR, SIS… kết hợp với các yếu tố môi trường, xã hội, con người…) trở nên đơn giản do sử dụng các khái niệm gắn liền với lĩnh vực dịch tễ học. Các mô hình của dịch tễ được định nghĩa độc lập với nhau, người dùng (các chuyên gia trong lĩnh vực) có thể dễ dàng tái sử dụng các mô hình, kết hợp các mô hình để tạo ra các mô hình phức tạp hơn phù hợp với mục đích của mình. Kendrick cũng gắn liền với một nền tảng mô phỏng giúp phân tích và thực nghiệm với các mô hình dịch tễ được định nghĩa.

Liên hệ nhóm phát triển: TS. Bùi Thị Mai Anh

Hình 2. Ngôn ngữ mô hình hoá và mô phỏng Kendrick (https://ummisco.github.io/kendrick/).

  • Giao thức định tuyến thông minh cho mạng IoT: Là một giao thức định tuyến sử dụng tính chất động của đường đi gói tin nhằm đảm bảo cân bằng tải trong toàn mạng, giảm thiểu độ trễ của các gói tin, tăng tỉ lệ gói tin tới đích. Giao thức này giúp kéo dài thời gian sống của các mạng IoT, tăng hiệu quả của việc truyền tin. Giao thức đặc biệt có ý nghĩa đối với các mạng cỡ lớn ứng dụng trong theo dõi môi trường, cảnh báo thiên tai, lũ lụt. Các kết quả nghiên cứu về giao thức định tuyến này đã được công bố tại 5 hội nghị lớn (LCN, CCNC, MASS, NCA, ICPADs), và 3 tạp chí uy tín hàng đầu (COMNET, JNCA, JSS), và nhận được nhiều giải thưởng nghiên cứu xuất sắc trong lĩnh vực mạng (giải thưởng bài báo xuất sắc nhất tại 3 hội nghị ISNIP 2014, SoICT 2015, ICT-DM 2019).
    Liên hệ nhóm nghiên cứu: TS. Nguyễn Phi Lê.

Hình 3. Minh hoạ giao thức định tuyến.

  • Giải pháp tổng hợp tiếng nói tiếng Việt (Text-To-Speech TTS) Vbee: Giải pháp này đã được phát triển để đi vào thực tế, giải quyết các bài toán số hoá dữ liệu, tự động hoá các nghiệp vụ trong các tổng đài chăm sóc khách hàng, ngân hàng và nhiều doanh nghiệp trong nước khác. Vbee đã được vinh dự trao các giải thưởng chuyển đổi số Việt Nam VDA, giải cao nhất của Nhân tài đất Việt năm 2018 lĩnh vực CNTT&TT.
    Liên hệ nhóm nghiên cứu và phát triển: TS. Nguyễn Thị Thu Trang.

Hình 4. Sản phẩm Vbee

  • Hệ thống ERP cho trường Đại học eUni: Là Hệ thống quản lý tổng thể các nghiệp vụ trong trường đại học, giúp tự động hoá nhiều nghiệp vụ quản lý đào tạo, nghiên cứu khoa học, cơ sở vật chất, hợp tác doanh nghiệp, … của các Đơn vị trong Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội. Hệ thống cũng đã tích hợp các cơ chế quản lý khối lượng công việc (giảng dạy, hướng dẫn, nghiên cứu, …) theo cơ chế mới về tự chủ đại học áp dụng tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
    Liên hệ nhóm phát triển: TS. Nguyễn Thanh Hùng.

Hình 5. Phần mềm Quản lý đào tạo

4. Một số hình ảnh tiêu biểu

Hình 6. Giảng viên bộ môn CNPM trong mắt sinh viên

Hình 7. Ngày hội CNPM (từ K51 đến K59)

Một số chia sẻ của cựu sinh viên bộ môn Công nghệ phần mềm về các thầy cô và chương trình học của bộ môn:

KS. Nguyễn Minh Khôi cựu sinh viên CNPM-K47, Sáng lập viên và Giám đốc kỹ thuật Công ty Công nghệ Sapo với giải pháp bán hàng đa kênh với 67K+ khách hàng:

 

“Sinh viên tốt nghiệp từ Bộ môn CNPM luôn là sự lựa chọn hàng đầu của các doanh nghiệp. Các kỹ sư CNPM có kiến thức vững, năng lực tốt, tiến bộ, hoà nhập nhanh và nắm giữ hầu hết các vị trí quan trọng ở Sapo”.

KS. Vũ Thị Thanh Bình cựu sinh viên CNPM Khoá 47, Vice President Engineer, Công ty WorldQuant, chi nhánh tại Hà Nội, có trụ sở tại Mỹ.

“Các thầy cô trong bộ môn không những cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc mà còn giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận các dự án có tính ứng dụng cao của các doanh nghiệp. Họ cũng góp phần không nhỏ vào việc xây dựng môi trường cởi mở giúp cho sinh viên tối ưu khả năng học tập và sáng tạo”.

Nguyễn Văn Đông Anh, cựu sinh viên CNPM Khóa 51, tốt nghiệp Thạc Sĩ tại trường University of California at Santa Barbara, hiện đang làm Kỹ sư phần mềm về mảng Trí tuệ nhân tạo tại Google.

 

“Chương trình đào tạo bộ môn CNPM cung cấp cho sinh viên nền tảng vững chắc về khoa học máy tính, các môn học có tính ứng dụng cao, và các dự án rất thực tế mà các bạn sinh viên có thể tham gia trong quá trình học tập. Sinh viên của bộ môn sau khi ra trường có thể đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của các công ty hàng đầu trong nước và quốc tế. Ngoài ra, do các thầy cô có rất nhiều kinh nghiệm trong cả môi trường nghiên cứu và môi trường làm việc bên ngoài, các sinh viên học được rất nhiều từ kinh nghiệm của các thầy cô. Nó tạo điều kiện cho các sinh viên có thể theo đuổi các dự định khác nhau trong tương lai”.

TS. Lê Xuân Thống Nhất, cựu sinh viên CNPM Khoá 52, tốt nghiệp tiến sĩ tại trường Đại học California, Hoa Kỳ, hiện đang làm nghiên cứu tại bộ phận Trí tuệ nhân tạo ứng dụng của Facebook.

 

“Chương trình đào tạo CNPM có cân bằng giữa lý thuyết nền tảng, kiến thức thực tiễn và hàn lâm đồng thời có nhiều hướng nghiên cứu, học tiếp sau đại học cả trong và ngoài nước”.

TS. Nguyễn Trung Hiếu, cựu sinh viên CNPM Khoá 52, tốt nghiệp tiến sĩ tại trường Đại học Nam California, Hoa Kỳ, hiện đang làm nghiên cứu tại Ebay:

“Các thầy cô CNPM rất năng động trong giảng dạy và nghiên cứu, cân bằng giữa lý thuyết và thực tiễn, đồng thời nắm bắt rất rõ nhu cầu của ngành khoa học máy tính trong nước cũng như quốc tế. Bộ môn cũng có nhiều cầu nối với các cựu sinh viên đã ra trường và thành đạt, giúp định hướng cho các sinh viên sắp tốt nghiệp.Tôi rất may mắn khi có cơ hội được học tập và dẫn dắt bởi các thầy cô, giúp xây dựng các kiến thức nền tảng cũng như định hướng khi sang Mỹ học tập và làm việc”.

Bùi Anh Dũng, cựu sinh viên CNPM khoá 51, Kỹ sư phát triển phần mềm Amazon Japan

“Chương trình giảng dạy của bộ môn CNPM rất chú trọng nền tảng của việc phát triển phần mềm, đặc biệt là cấu trúc dữ liệu, giải thuật và thiết kế phần mềm. Nếu nắm vững được các kiến thức này, các kỹ sư của bộ môn sau khi tốt nghiệp có thể đáp ứng và thích nghi với những nhu cầu khắt khe nhất của các công ty lớn như Google, Amazon, Microsoft. Các chương trình thực tập trước tốt nghiệp cũng giúp các bạn sinh viên làm quen được với môi trường làm việc thực tế, có thể nhanh chóng nắm bắt yêu cầu của nhà tuyển dụng”.

5. Thông tin về các cán bộ mời giảng

  • ThS. Đỗ Văn Uy
    • Các môn giảng dạy: IT4012 Bảo mật Thông tin, IT4010 An toàn và Bảo mật Thông tin, IT1110 Tin học đại cương, IT4490Q Thiết kế và Xây dựng phần mềm, IT4910 An toàn hệ thống.
    • Email: uydv@soict.hust.edu.vn
  • ThS. Lương Mạnh Bá
    • Các môn giảng dạy: IT4089 Nhập môn Công nghệ Phần mềm, IT4580 Kỹ thuật phần mềm an toàn.
    • Email: balm@soict.hust.edu.vn
  • ThS. Bùi Thị Hoà
  • PGS. TS. Trần Thị Thanh Hải
    • Các môn giảng dạy: IT4440 Tương tác người máy, IT4440Q Tương tác người máy.
    • Email: thanh-hai.tran@mica.edu.vn
    • Văn phòng: 1005, Nhà B1, ĐHBK Hà Nội.
  • TS. Nguyễn Thị Thanh Tú
    • Các môn giảng dạy: IT4856 Quản trị dự án, IT4480 Làm việc nhóm và kỹ năng giao tiếp, IT4530 Kỹ năng lập báo cáo kĩ thuật và dự án, IT4520 Kinh tế CNPM, IT4460 Phân tích thiết kế yêu cầu phần mềm, IT4555Q Mô hình hóa phần mềm.
    • Email: tu.nguyenthithanh@hust.edu.vn
    • Văn phòng: P907, Tòa nhà Thư viện Tạ Quang Bửu.